Chiến lược phát triển của trường

18 Tháng Năm, 2011

CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN TRƯỜNG, GIAI ĐOẠN 2010 - 2020,  VÀ TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Ngày nay, xu hướng toàn cầu hóa đang làm cho các nội dung thuộc mọi lĩnh vực đời sống mỗi quốc gia trở thành vấn đề phổ quát của nhân loại. Hệ thống các phương tiện truyền thông đại chúng và báo chí nói chung, trong đó có ngành báo chí phát thanh - truyền hình nói riêng cũng không nằm ngoài quỹ đạo đó. Thế kỷ 21 - được coi là thế kỷ của sự bùng nổ thông tin - với xu hướng tích hợp báo in, báo nói, báo hình và báo trực tuyến chung một tòa soạn đang trở nên phổ biến; tạo nên một dòng thác thông tin tràn ngập trên phạm vi toàn cầu.

Thực tiễn đó đòi hỏi bản thân báo chí phải khẳng định vai trò của mình bằng lượng thông tin lớn, đa dạng, nóng hổi, hấp dẫn, có hàm lượng thông tin cao để thuyết phục và thu hút công chúng. Để đạt được mục tiêu đó, một trong những cách thức và giải pháp quan trọng mang tính bền vững là phải đào tạo cho được một đội ngũ làm công tác báo chí và kỹ thuật công nghệ hội đủ các tiêu chí cần thiết, bảo đảm đi kịp với sự phát triển của nền báo chí - truyền thông hiện đại cũng như nhu cầu đòi hỏi của xã hội. Muốn vậy, ngành giáo dục - đào tạo nói chung, các cơ sở đào tạo về báo chí và công nghệ kỹ thuật điện tử, truyền thông và tin học ứng dụng thuộc các loại hình khác nhau nói riêng phải không ngừng nỗ lực trong việc phát huy vai trò, chức năng nhiệm vụ đào tạo của mình để bảo đảm liên tục và thường xuyên cung cấp cho xã hội một đội ngũ làm báo và kỹ thuật công nghệ có tính chuyên nghiệp cao. Các cơ sở đào tạo về báo chí và kỹ thuật công nghệ nói chung, vì vậy cần phải xây dựng cho mình một chiến lược phát triển lâu dài, có tính khả thi cao để đáp ứng tốt yêu cầu đó. Đây cũng chính là lý do chủ yếu để Trường Cao đẳng Phát thanh - Truyền hình II xây dựng chiến lược phát triển của trường, giai đoạn 2011- 2020 và tầm nhìn đến năm 2030.

II. SỨ MẠNG

Trường Cao đẳng Phát thanh - Truyền hình II (Broadcasting College II - viết tắt là BC2) thuộc Đài Tiếng nói Việt Nam. Trường đứng chân trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh - nơi có hoạt động báo chí được đánh giá là đa dạng và sôi động nhất của cả nước. Sau hơn ba thập kỷ xây dựng và trưởng thành (Trường được thành lập từ năm 1977), Trường đang tiếp tục khẳng định sứ mạng là một cơ sở đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ báo chí, kỹ thuật phát thanh - truyền hình hàng đầu của các tỉnh, thành phía Nam. Trường cũng đồng thời là đầu mối quan trọng trong các hoạt động liên kết, hợp tác đào tạo, nghiên cứu khoa học, bồi dưỡng nghiệp vụ cho các cơ quan báo chí phát thanh - truyền hình, đào tạo đội ngũ công nghệ kỹ thuật điện tử, truyền thông và tin học ứng dụng cho các đơn vị hành chính sự nghiệp, kinh tế v.v… thuộc địa bàn TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam.

Tóm lại: Sau hơn 30 năm thành lập, vượt lên mọi khó khăn, thách thức, Trường đã và đang đào tạo hơn 4.000 người là học sinh, sinh viên thuộc các bậc: công nhân kỹ thuật phát thanh - truyền hình bậc 2 và 3/7, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng công nghệ kỹ thuật điện tử, báo chí thuộc chuyên ngành phát thanh - truyền hình và tin học ứng dụng; liên kết đào tạo đại học ngành báo chí và điện tử viễn thông, điện tử tin học cho hơn 500 sinh viên; đồng thời mở nhiều lớp đào tạo nghề công nghệ cao ngắn hạn có cùng lĩnh vực với khoảng gần 4.000 lượt học viên các loại. Đây là bằng chứng sinh động về sự nỗ lực phấn đấu không ngơi nghỉ và là niềm tự hào của các thế hệ lãnh đạo, của đội ngũ giảng viên, công nhân viên nhà trường trong quá trình xây dựng và phát triển.

III. HIỆN TRẠNG:

-  Trụ sở của Trường cao đẳng Phát thanh - Truyền hình II hiện đặt tại 75 Trần Nhân Tôn, Phường 9, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh, với diện tích mặt bằng khiêm tốn (chưa đến 2.500 m2). Bên cạnh đó, Trường còn có 2 lớp học tại Đài Phát sóng Phát thanh Quán Tre, quận 12 và đang tiến hành triển khai xây dựng công trình Trường cao đẳng Phát thanh - Truyền hình II tại phường Đông Hưng Thuận, quận 12, TP. Hồ Chí Minh trên khu đất rộng hơn 3,2 ha với tổng vốn được duyệt là 235 tỷ đồng.

-  Về tổ chức bộ máy: Hiện Trường có 60 CB-GV-VC, trong đó đội ngũ giảng viên là 36 người (gồm 1 tiến sĩ, 16 thạc sĩ, 6 người đang học cao học...). Về cơ bản đội ngũ giảng viên đã đáp ứng được yêu cầu giảng dạy của Trường; số SV/GV quy đổi trong năm học 2010-2011 là 20,22 còn khá cao so mức qui định của Bộ GD& ĐT…Nhìn chung, đội ngũ giảng viên, cán bộ, nhân viên, phần lớn còn thiếu tính chuyên nghiệp, chủ động, sáng tạo trong công tác. Đa số cán bộ quản lý đều trưởng thành từ thực tiễn công tác, ít được đào tạo về thực tiễn quản trị đại học.

- Về cơ sở vật chất: Hệ thống cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ đào tạo của Trường còn thiếu thốn và hạn chế. Mức độ tự chủ trong nhiều lĩnh vực có liên quan nhìn chung còn thấp.

- Về qui mô tuyển sinh: Do bị chi phối bởi các điều kiện trên, số lượng tuyển sinh hàng năm chỉ từ 400 - 500 học sinh, sinh viên; qui mô đào tạo hiện nay khoảng hơn 1000 học sinh, sinh viên cho các bậc học và ngành học khác nhau.

- Do diện tích của Trường quá hẹp nên thư viện của Trường chỉ có 47 m2 với số lượng đầu sách tham khảo và giáo trình chỉ khoảng 2000. Công tác nghiên cứu khoa học hàng năm từ khoảng 1-2 công trình cấp Đài và đang triển khai khoảng 18 đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường. Trường đang triển khai đào tạo theo niên chế chưa chuyển sang đào tạo theo học chế tín chỉ; chưa thực hiện hoàn tất việc kiểm định chất lượng giáo dục

IV. TẦM NHÌN, MỤC TIÊU CHIẾN LƯỢC VÀ QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN

4.1. Tầm nhìn:

Tầm nhìn chiến lược ở đây được xác định bởi hai giai đoạn:

1. Giai đoạn từ 2011 đến 2020;

2. Tầm nhìn đến năm 2030.

 

4.1.1. Giai đoạn từ 2010 đến 2020:

Một trong những yếu tố quan trọng của quá trình phát triển của Trường là hệ thống cơ sở vật chất phục vụ đào tạo. Theo Dự án đã được Lãnh đạo Đài Tiếng nói Việt Nam phê duyệt, bắt đầu từ năm 2011, Trường cao đẳng Phát thanh - Truyền hình II sẽ được xây dựng mới trên khu đất tại Đài Phát sóng Phát thanh Quán Tre (thuộc phường Đông Hưng Thuận, quận 12, TP. Hồ Chí Minh) với diện tích mặt bằng rộng 32.281 m2 đất khu B (theo Qui hoạch).

      Dự kiến, Dự án sẽ hoàn thành xây dựng cơ bản (giai đoạn 1) vào năm 2014. Với hệ thống cơ sở vật chất đó, cùng với hệ thống kỹ thuật tương ứng, cho phép Trường mở rộng và phát triển các hoạt động và đào tạo. Theo đó, trong giai đoạn này, Trường Cao đẳng Phát thanh - Truyền hình II sẽ vẫn là một trung tâm đào tạo chuyên biệt trình độ cao đẳng, đại học và sau đại học về các loại hình phát thanh - truyền hình và tin học ứng dụng có qui mô hàng đầu tại TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành phía Nam.

4.1.2. Tầm nhìn đến năm 2030:

      Đến năm 2030, Trường Cao đẳng Phát thanh - Truyền hình II sẽ trở thành một trường đại học trọng điểm quốc gia, đào tạo đa chuyên ngành, đa lĩnh vực và đa loại hình đội ngũ làm công tác báo chí và kỹ thuật công nghệ không chỉ riêng tại TP. HCM và các tỉnh phía Nam, mà trên phạm vi cả nước và một số quốc gia, lãnh thổ trong khu vực. Song hành với qui mô đó, Trường cũng sẽ là một địa chỉ cho các hoạt động liên quan khác, như xây dựng các khoa, các trung tâm đào tạo nghề công nghệ cao, các viện nghiên cứu, các cơ sở dịch vụ… ứng dụng và cung ứng các thành tựu khoa học - kỹ thuật mới trong lĩnh vực báo chí và kỹ thuật công nghệ nói chung; báo chí, kỹ thuật công nghệ phát thanh - truyền hình và tin học ứng dụng nói riêng. Ngoài trụ sở chính đặt tại địa điểm nói trên, trường sẽ là đầu mối chính để thực hiện kết nối và liên kết hợp tác, xác lập mạng lưới các cơ sở đào tạo, nghiên cứu, ứng dụng với các địa phương khác trong cả nước như Hà Nội, Đà Nẵng, Cần Thơ… cũng như tại một số trường, viện, cơ sở đào tạo ở ngoài nước. 

4.2. Mục tiêu chiến lược:

4.2.1. Định hướng phát triển

     Trong những năm trước mắt, Trường tập trung đào tạo 3 chuyên ngành chính là: Báo chí (chuyên ngành báo chí Phát thanh - Truyền hình), Điện tử - Truyền thông (chuyên ngành Công nghệ Phát thanh - Truyền hình), Tin học ứng dụng (chuyên ngành Truyền thông đa phương tiện). Từ giai đoạn (2012 - 2014) trở đi, Trường sẽ được nâng cấp lên thành trường Đại học, trở thành nơi đào tạo nguồn nhân lực có trình độ đại học, cao đẳng, sau đại học đa hệ, đa lĩnh vực và ngành nghề. Chất lượng nguồn nhân lực được đào tạo cao; bảo đảm đáp ứng đủ và đi kịp với nhu cầu thực tế của xã hội. 

4.2.2. Các mục tiêu cụ thể:

4.2.2.1. Về công tác đào tạo: Quy mô đào tạo của Trường đến năm 2015 được phân theo ngành và chuyên ngành như sau:

1. Đối với ngành Báo chí (gồm các chuyên ngành báo Phát thanh, báo Truyền hình, báo Điện tử) bình quân mỗi năm đào tạo khoảng 900 sinh viên cho các khóa và bậc học (mỗi chuyên ngành 300 SV).

2. Đối với ngành Công nghệ kỹ thuật điện tử, truyền thông (gồm các chuyên ngành Kỹ thuật âm thanh, Kỹ thuật hình, Kỹ thuật truyền dẫn phát sóng) bình quân mỗi năm đào tạo khoảng 900 sinh viên cho các khóa và bậc học (mỗi chuyên ngành 300 SV).

3. Đối với ngành Tin học ứng dụng (gồm các chuyên ngành Tin học truyền thông đa phương tiện, Mạng máy tính) bình quân mỗi năm đào tạo khoảng 600 sinh viên cho các khóa và bậc học (mỗi chuyên ngành 300 SV).

      Tổng cộng: 2.400 sinh viên           

      Từ 2016 - 2020 và sau năm 2020, mỗi năm số sinh viên tuyển mới cho các chuyên ngành tăng bình quân ít nhất 10% và cũng từ giai đoạn này Trường bắt đầu nhận đào tạo sinh viên của các nước trong khu vực (học bằng tiếng Việt).

      Kể từ năm học 2011 trở đi, Trường nghiên cứu mở thêm ngành và chuyên ngành học mới phù hợp với nhu cầu của thị trường. Các chương trình đào tạo được xây dựng theo hướng chuẩn hóa, hiện đại, phù hợp với điều kiện Việt Nam, có khả năng liên thông với các trường đại học có cùng ngành, chuyên ngành đào tạo và kể từ năm 2020 trở đi tương thích với chương trình của các trường trong khu vực và trên thế giới, được kiểm định bởi các tổ chức kiểm định chất lượng trong nước và thế giới;

4.2.2.2. Về công tác phát triển đội ngũ: Kiện toàn bộ máy tổ chức của Trường theo hướng hiện đại, hợp lí và chuyên nghiệp. Bộ máy quản lí hành chính tinh giản, gọn nhẹ; các khoa, viện, bộ môn, trung tâm... được tổ chức phù hợp với các chuyên ngành đào tạo.

      Xây dựng đội ngũ giảng viên, cán bộ, viên chức đủ về số lượng theo qui định của Bộ GD và ĐT (tỷ lệ SV/GV), mạnh về chất lượng, đạt các tiêu chuẩn về trình độ, năng lực và phẩm chất. Cơ cấu đội ngũ cán bộ, giảng viên hợp lí, trong đó đội ngũ giảng viên chiếm từ 70% trở lên. Phấn đấu đến năm 2020, có 80% giảng viên cao đẳng đạt trình độ thạc sỹ trở lên, trong đó có 15% là tiến sỹ; 100% giảng viên đại học đạt trình độ thạc sỹ trở lên, trong đó có 30% là tiến sỹ. Trường có chính sách để thu hút người hiền tài, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng toàn diện về chuyên môn, nghiệp vụ, phương pháp sư phạm, ngoại ngữ, tin học và tạo những điều kiện thuận lợi để cán bộ giảng dạy phát huy trí tuệ, năng lực và kinh nghiệm của mình trong quá trình đào tạo, nghiên cứu khoa học, cung cấp các dịch vụ cho sự phát triển xã hội và tham gia quá trình hội nhập quốc tế...

       Hoàn thiện hệ thống các quy định, quy chế tổ chức và hoạt động của trường; chuẩn hoá và hiện đại hoá các quy trình quản lí.

4.2.2.3.  Về công tác xây dựng cơ sở vật chất và thiết bị phục vụ đào tạo:

     Triển khai đúng tiến độ Dự án xây dựng Trường Cao đẳng Phát thanh - Truyền hình II (giai đoạn 1) đã nói ở trên. Kể từ năm 2013, dự kiến đầu tư khoảng 80 tỷ đồng (nguồn vốn xây dựng cơ bản) để mua sắm trang thiết bị hiện đại và đồng bộ cho cơ sở mới và cho việc nâng cấp cơ sở hiện có (tại 75 Trần Nhân Tôn, P9, Q5, TP. Hồ Chí Minh) nhằm bảo đảm chất lượng đào tạo.

      Từ năm 2014, tiếp tục dự án xây dựng Trường giai đoạn 2 (2014 - 2016) khoảng 200 - 250 tỷ đồng. Giai đoạn (2016 - 2018), triển khai dự án đầu tư mua sắm trang thiết bị (cho giai đoạn 2) phục vụ đào tạo với khoảng 70 - 80 tỷ đồng nhằm bảo đảm chỗ làm việc, nghiên cứu khoa học và học tập cho khoảng hơn 700 CB-GV-VC và khoảng từ 3500 đến 4000 sinh viên hệ chính qui.

      Trong năm 2016, bắt đầu triển khai dự án xây dựng mới (cơ sở 3) của Trường trên khu đất khoảng 5 ha do TP. Hồ Chí Minh cấp theo qui hoạch của TP có sự thống nhất của Bộ GD và ĐT (các khu đô thị trường đại học). Đến năm 2020, Trường có qui mô đào tạo khoảng trên 5000 sinh viên hệ chính qui và đội ngũ GV- CB - VC khoảng 1.000 người.

      Các Dự án trên, Trường sẽ lập và trình các cấp có thẩm quyền vào những thời điểm thích hợp.

      Về nguồn lực tài chính: Trường tiếp tục đề nghị tăng cường nguồn ngân sách nhà nước. Đồng thời, tiếp tục thực hiện đa dạng hoá các nguồn lực tài chính thông qua các hoạt động đào tạo, nghiên cứu, dịch vụ và hợp tác trong nước và quốc tế; phấn đấu sau năm 2015, các nguồn thu từ các hoạt động này đạt từ 40% trở lên trong tổng số nguồn lực tài chính của Trường.

      Tăng cường công tác quản lí và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính để phục vụ cho sự phát triển của Trường và bảo đảm đời sống của GV- CB - VC và hỗ trợ một phần cho người học và các hoạt động phong trào của Trường.

      Giai đoạn 2013-2020 và sau 2020 xây dựng thư viện điện tử dùng chung và kết nối giữa các trường đại học trong phạm vi quốc gia, khu vực và quốc tế. Xây dựng một số phòng thí nghiệm hiện đại cho các ngành học truyền thống của Trường.

      Xây dựng khu ký túc xá cho sinh viên với qui mô 800 giường vào năm 2013 và 2000 giường sau năm 2015; nhà công vụ cho giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục của Trường vào năm 2013.

4.2.2.4. Về Nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ:

      Vào những năm cuối đến năm 2020, nghiên cứu khoa học theo chuẩn và trình độ các nước tiên tiến trong khu vực; vào những năm cuối đến năm 2030 theo chuẩn và trình độ các nước tiên tiến trên thế giới. Cung cấp các dịch vụ khoa học chuyển giao chất xám.

      Đảm bảo chất lượng của các hội nghị khoa học, chú ý đặc biệt nâng cao chất lượng và hiệu quả của các hội thảo chuyên ngành. Kể từ năm 2012 có 100% GV và CB quản lý giáo dục tham gia nghiên cứu khoa học; kể từ năm 2016 có ít nhất 50% giảng viên thạc sĩ, 100% giảng viên tiến sĩ có ít nhất 1 bài báo khoa học đăng trên tạp chí chuyên ngành/năm hoặc có báo cáo trình bày tại các hội nghị, hội thảo khoa học quốc gia, quốc tế và phấn đấu có bài đăng trong các tạp chí quốc tế.

      Kể từ năm 2016 trở đi, cứ 3 năm/lần, Trường tổ chức từ 1 đến 2 hội thảo, hội nghị khoa học cấp quốc gia, tổ chức Hội nghị khoa học khu vực và quốc tế khi có điều kiện.

4.2.2.5. Về công tác hợp tác quốc tế: Thiết lập các mối quan hệ liên kết đào tạo và nghiên cứu khoa học với các đối tác nước ngoài; xây dựng và triển khai có hiệu quả các chương trình giao lưu, trao đổi giảng viên và sinh viên, học sinh.

     Tăng cường các đầu mối quan hệ hợp tác quốc tế mới để có được thêm nhiều nguồn tài trợ học bổng, cơ sở vật chất, trang thiết bị, tài liệu sách vở và chất xám phục vụ công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học, tăng các chương trình giao lưu, trao đổi giảng viên và học sinh, sinh viên.

      Khai thác, huy động các nguồn tài trợ và sự giúp đỡ của các doanh nghiệp, các tổ chức quốc tế phục vụ công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học. Phát huy hiệu quả của các chương trình hợp tác về nghiên cứu khoa học, trao đổi với các tổ chức quốc tế và các trường đại học tiên tiến của các nước có nền công nghiệp phát triển như Nhật Bản, Mỹ, Hàn Quốc, các nước Tây Âu, Bắc Âu...

      Triển khai các chương trình trao đổi giảng viên, cán bộ ngắn hạn với một số nước như Thụy Điển, Cộng hòa Liên bang Đức, Vương quốc Hà Lan, Malaysia, Hàn Quốc, Trung Quốc...

V. CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

      Trên cơ sở chiến lược và các mục tiêu chủ yếu trên, Nhà trường bước đầu đề xuất một số giải pháp sau đây.

Giải pháp thứ nhất: Đổi mới quản lý giáo dục:

- Thực hiện công khai hóa về chất lượng giáo dục và nguồn lực

- Đẩy mạnh cải cách hành chính trong toàn bộ các hoạt động của Trường,

- Xây dựng và triển khai đề án đổi mới cơ chế tài chính nhằm hoàn thành tốt các hoạt động của Trường, huy động ngày càng tăng và sử dụng có hiệu quả nguồn lực của nhà nước và xã hội (nếu có) để nâng cao chất lượng và tăng quy mô đào tạo. 

Giải pháp thứ hai: Xây dựng đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục:

- Trường thực hiện các giải pháp sau:

+ Thực hiện đề án đào tạo giảng viên từ 2011 đến năm 2020 với ba phương án đào tạo: đào tạo ở trong nước, đào tạo ở nước ngoài và kết hợp đào tạo trong và ngoài nước.

+ Tăng cường các khóa bồi dưỡng và bồi dưỡng nâng cao năng lực cho đội ngũ GV, theo các chương trình qui định và theo các chương trình tiên tiến, các chương trình hợp tác với nước ngoài để đáp ứng được nhiệm vụ trong tình hình mới.

+ Có chính sách khuyến khích thực sự đối với đội ngũ giảng viên thông qua chế độ đãi ngộ xứng đáng.

- Thu hút các nhà khoa học nước ngoài có uy tín và kinh nghiệm, các trí thức Việt kiều tham gia giảng dạy và nghiên cứu khoa học tại Trường.

- Xây dựng lực lượng cán bộ quản lý tận tâm, thạo việc, có năng lực điều hành; bồi dưỡng cán bộ quản lý phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục; có chế độ đãi ngộ xứng đáng đối với đội ngũ cán bộ quản lý.

Giải pháp thứ ba: Đổi mới chương trình đào tạo và phương pháp đào tạo:

a) Với chương trình đào tạo và các môn học:

  • Tăng tính chủ động trong nội dung chương trình đào tạo (theo học chế tín chỉ) và sắp xếp chương trình đào tạo để các khoa có thể hợp nhất các môn học nhằm giảm thiểu tổng số tín chỉ của khóa học
  • Tăng tính chủ động và đưa  nhiều môn học tự chọn hơn.
  • Nhấn mạnh vào các kỹ năng tư duy ở cấp độ cao hơn (ứng dụng, phân tích, tổng hợp và đánh giá) trong giảng dạy và sau đó kiểm tra các kỹ năng tư duy này
  • Thiết kế nhiều hơn nữa những kinh nghiệm ứng dụng thực tiễn, các bài tập và dự án
  • Phát triển các kỹ năng Anh văn: nói, nghe, viết để có thể dự các lớp tập huấn mà giảng viên là người nước ngoài và tham khảo được các tài liệu bằng tiếng Anh.
  • Phát triển các kỹ năng thông qua các hoạt động trong lớp và trong đời sống thực (học và làm việc, thực tập, kinh nghiệm thực tiễn)
  • Thiết lập các thỏa thuận liên thông giữa các ngành học trong cùng một trường và giữa các trường.

b) Giải pháp đề xuất: Với công tác giảng dạy và học tập:

  • Phối hợp sử dụng các phương pháp học tập tích cực, yêu cầu giao bài tập về nhà và có chấm điểm.
  • Hiện đại hóa phòng học, thư viện và trang thiết bị thí nghiệm để phục vụ giảng dạy và học tập.

c)  Áp dụng các chương trình đào tạo tiên tiến của các trường đại học có uy tín trên thế giới. Đến năm 2020 có ít nhất 3 chương trình tiên tiến quốc tế được sử dụng tại Trường.

d) Thực hiện các chương trình đổi mới về dạy học các môn học ngoại ngữ trong Trường, đặc biệt là chương trình nâng cao hiệu quả dạy, học và sử dụng tiếng Anh. Đối với giáo dục đại học, thực hiện giảng dạy một số môn học bằng tiếng Anh ở Trường từ năm 2016 với quy mô và số môn học tăng dần trong những năm sau.

đ) Đến năm 2016 - 2017, Trường chuyển sang đào tạo theo học chế tín chỉ trong tất cả các ngành đào tạo của Trường.

Giải pháp thứ tư: Kể từ năm 2011, đổi mới việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập. Trường dành kinh phí và bố trí nhân lực có chuyên môn để chăm lo công tác này.

 

Giải pháp thứ năm: Xã hội hóa giáo dục

- Khen thưởng, tôn vinh các nhà hảo tâm, doanh nghiệp có đóng góp xuất sắc cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo của Trường.

- Khuyến khích và bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư cho đào tạo của Trường.

-  Khuyến khích và tạo điều kiện cho việc liên kết mở các khóa, ngành đào tạo đại học bằng vốn nước ngoài góp vào Trường.

Giải pháp thứ sáu: Gắn đào tạo với nhu cầu xã hội.

      Nhằm thực hiện có hiệu quả việc cung cấp nhân lực trực tiếp cho các doanh nghiệp, tạo điều kiện để các doanh nghiệp tham gia vào quá trình xây dựng và thực hiện chương trình đào tạo, quy định trách nhiệm và cơ chế phù hợp để mở rộng các hình thức hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo.

Giải pháp thứ bảy: Xây dựng ngành đào tạo tiên tiến.

     Tập trung nguồn đầu tư nhà nước và tranh thủ nguồn vốn vay ODA để xây dựng ngành đào tạo bậc đại học của Trường đạt đẳng cấp quốc tế, để sau năm 2020 có ít nhất 1 ngành đào tạo bậc đại học của Trường được xếp hạng trong số 100 trường đại học có cùng ngành học hàng đầu của khu vực ASEAN và được xếp hạng trong số 1000 trường đại học có cùng ngành học hàng đầu thế giới.

VI. CÁC CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU ĐỂ THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC

      Để thực hiện được các mục tiêu chiến lược của Trường đã đề ra, ngoài ngân sách hàng năm chi thường xuyên cho hoạt động đào tạo, Trường sẽ tranh thủ nguồn ngân sách để thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia (CTMTQG) về giáo dục và đào tạo. CTMTQG về giáo dục và đào tạo đến năm 2020 của Trường bao gồm những dự án sau:

1. Đổi mới chương trình và các tài liệu dạy học

2. Đổi mới tự đánh giá chất lượng đào tạo

3. Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục

4. Thu hút đội ngũ trí thức Việt kiều và nước ngoài tham gia giảng dạy, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ tại Trường

5. Đào tạo, bồi dưỡng học sinh, sinh viên tài năng

6. Tăng cường chất lượng và hiệu quả giáo dục đạo đức và văn hóa trong nhà trường

7.  Xây dựng hệ thống thông tin về thị trường lao động và đào tạo theo nhu cầu xã hội

8. Xây dựng một số ngành đào tạo của Trường đạt trình độ quốc tế

9. Tăng cường cơ sở vật chất nhà trường

10. Phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin và ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động đào tạo và quản lý của Trường. 

VII. TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC    

        Hàng năm, mục tiêu chiến lược của Trường được cụ thể hóa thành kế hoạch, nhiệm vụ năm học và năm kế hoạch của Trường, được phổ biến rộng rãi đến từng khoa, phòng, trung tâm, và các đơn vị trực thuộc Trường.

       Các đơn vị trong Trường xây dựng kế hoạch năm học của đơn vị mình trên cơ sở kế hoạch, nhiệm vụ chung của Trường và tổ chức thực hiện sau khi được Ban Giám hiệu Trường phê duyệt .

        Hàng năm Trường tổ chức hội nghị tổng kết năm học, đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch, nhiệm vụ. Trên cơ sở đó xác định, điều chỉnh mục tiêu của Nhà trường trong năm học tiếp theo cho phù hợp với thực tiễn.

       Kể từ năm 2011: cứ sau 5 năm, Trường sẽ tổ chức đánh giá kết quả thực hiện Kế hoạch phát triển Trường 5 năm đã qua, xây dựng Kế hoạch phát triển Trường 5 năm kế tiếp; Cứ sau 10 năm, Trường sẽ tổ chức đánh giá kết quả thực hiện Chiến lược phát triển của Trường 10 năm đã qua,  xây dựng Chiến lược phát triển Trường 10 năm kế tiếp

© 2010 - 2014 Trường CĐ Phát Thanh Truyền Hình II. Tất cả quyền được bảo lưu.